![]()
Fax: +493046795841 www.thongtinberlin.de - www.thongtinberlin.net - www.dvtnradio.com - www.dvtnradio.de
|
Trí thức và một vài đặc điểm của trí
thức
Nguyễn Minh Thuyết
1. Thế nào là trí thức ?
1.1. Nói đến trí thức, người ta
thường nghĩ ngay tới những người có bằng cấp cao. Dĩ nhiên, bằng cấp cao là một
dấu hiệu có lẽ dễ sử dụng và có thể được sử dụng trong nhiều trường hợp. Nhưng
đó không phải là dấu hiệu bản chất của người trí thức.
Trên thực tế, có những người bằng cấp không cao nhưng do tư chất thông minh, lại chịu học hỏi nên có vốn tri thức khá sâu sắc và có nhiều sáng tạo được ghi nhận trong những lĩnh vực chuyên môn nhất định. Lịch sử từng ghi công nhiều tên tuổi lớn chưa học hết bậc đại học đă có những đóng góp xuất sắc cho khoa học - công nghệ, văn hóa - nghệ thuật hay cho lĩnh vực quản lư kinh tế - xă hội, như các nhà sáng chế và quản lư doanh nghiệp nổi tiếng thế giới Thomas Edison, Bill Gates ở Hoa Kỳ, nhà viết kịch vĩ đại Shakespeare ở Anh Quốc. Ở Việt Nam, nhà văn Nguyên Hồng khi hoàn thành những sáng tạo nghệ thuật để đời như "Những ngày thơ ấu", "Bỉ vỏ", chỉ mới học xong tiểu học; và trên các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp hiện nay, đang xuất hiện ngày càng nhiều "kỹ sư chân đất" - những nông dân "chân lấm tay bùn" chịu học và dám nghĩ, dám làm, chế tạo từ máy cày, máy cấy, máy thu hoạch mía cho đến máy bay v.v..., đáp ứng nhu cầu của công cuộc lao động sản xuất và ước muốn chinh phục đỉnh cao của khoa học - công nghệ. Họ là những trí thức thật sự.
Ngược lại, trong cuộc sống cũng có không ít người sở hữu bằng cấp cao nhưng v́ nhiều lư do khác nhau, đă chuyển sang lao động chân tay hoặc buôn bán nhỏ, thậm chí, không làm ǵ hoặc làm những nghề không lương thiện. Số người có bằng cấp cao mà không hoạt động trong lĩnh vực lao động trí óc này khó có thể xếp vào tầng lớp trí thức.
Thêm một lư do để vận dụng có mức độ dấu hiệu "bằng cấp cao" là đặc tính "cao" phụ thuộc khá nhiều vào quan niệm của cộng đồng dân cư cụ thể. Thời thuộc Pháp, bằng cao đẳng đă là rất cao, bởi vậy mới có tiêu chuẩn kén chồng của các tiểu thư con nhà giàu: "Phi cao đẳng bất thành phu phụ" (nghĩa là: "không có bằng cao đẳng, không thành vợ thành chồng", "không có bằng cao đẳng th́ không lấy"). Thời nay, đối với dân cư thành thị, cao đẳng chưa chắc đă là cao. Nhưng đối với vùng sâu vùng xa, người có bằng cao đẳng chắc chắn được cộng đồng trọng vọng.
Như vậy, có thể hiểu trí thức
không nhất thiết là người có bằng cấp cao và ngược lại, người có bằng cấp cao
cũng chưa hẳn đă là trí thức. Điều quan trọng đối với người trí thức là có hiểu
biết sâu rộng và có khả năng sáng tạo trong một hoặc một số lĩnh vực chuyên môn
nhất định.
1.2. Thay cho dấu hiệu bằng cấp, nhiều người quan niệm: "Trí thức là những người
lao động trí óc." Nhưng định nghĩa này chưa làm rơ thế nào là "lao động trí
óc". Nếu chỉ nh́n vào hiện tượng th́ một nghệ sĩ dương cầm, một nhà điêu khắc
hay một bác sĩ phẫu thuật sử dụng cơ bắp không kém ǵ người lao động chân tay;
sáng tạo của một họa sĩ thoạt nh́n cũng không khác hoạt động của người chép
tranh hay người vẽ truyền thần; công việc của một nhà giáo ở trung học hay đại
học cũng thuộc phạm trù "giáo dục" như công việc của cô bảo mẫu. Điểm phân biệt
giữa những người này là ở tầm mức của công việc và tŕnh độ chuyên môn trong
thực hiện công việc ấy. Ví dụ, khác với y tá hay hộ lư, bác sĩ phẫu thuật thực
hiện một công việc phức tạp và hệ trọng, quan hệ đến sức khỏe và tính mạng con
người; và để có thể thực hiện công việc đó, người bác sĩ phải được đào tạo chu
đáo về lư luận và thực tiễn; ca phẫu thuật càng phức tạp, tŕnh độ càng phải
cao. Tương tự, người thợ đục đá đục theo khuôn mẫu đă có sẵn, cho ra ḷ hàng
loạt sản phẩm giống hệt nhau; c̣n đối với nhà điêu khắc th́ mỗi tác phẩm là một
sáng tạo duy nhất, thể hiện tư tưởng và phong cách nghệ thuật nhất định. Tóm
lại, người trí thức thực hiện những công việc có tầm quan trọng, đ̣i hỏi tŕnh
độ chuyên môn cao hơn, sự huy động nỗ lực trí óc nhiều hơn.
1.3. Một trong những cách hiểu
khác về trí thức là dựa vào hoạt động chính đem lại thu nhập cho họ. Theo cách
hiểu này, trí thức là những người lấy lao động trí óc làm một nghề, hay nói cách
khác là sống bằng lao động trí óc. Cách hiểu này không sai nhưng cũng không bao
quát được hết thực tế. Bởi v́ trong lịch sử không hiếm những trường hợp như cụ
Tú Xương, tài năng văn chương nức tiếng, được hậu thế tôn vinh là một trong
những thi nhân lỗi lạc của nước nhà, nhưng sinh thời, cụ chỉ lấy văn chương làm
nơi bộc bạch nỗi niềm, c̣n kiếm sống phải nhờ cả vào một tay cụ bà "Quanh năm
buôn bán ở mom sông / Nuôi đủ năm con với một chồng."
Không riêng ǵ văn chương mà trong nhiều lĩnh vực hoạt động khác, chúng ta cũng
có thể dẫn ra những ví dụ tương tự. Họa sĩ Van Gogh miệt mài sáng tạo nghệ thuật
suốt cuộc đời nhưng khi c̣n sống, ông lâm vào cảnh cùng quẫn v́ không mấy ai
chịu mua những bức tranh của họa sĩ thiên tài. Nhà sáng chế K. Tsiolkovxkij thời
Sa Hoàng bị coi là gàn dở và cũng sống trong cảnh bần hàn; sáng chế bị xếp xó.
Chỉ sau khi có chính quyền xô viết, ông mới được trọng dụng. Nhưng phải đến 22
năm sau khi ông mất, tên lửa đẩy thiết kế theo mô h́nh của ông mới đưa được vệ
tinh lên vũ trụ và ông mới được tôn vinh là ông tổ của ngành hàng không vũ trụ.
Như vậy, không phải trí thức bao giờ cũng có thể sống bằng trí tuệ của ḿnh. Điều quan trọng là họ thường xuyên lao động trí óc, thường xuyên sáng tạo những sản phẩm trí tuệ, như là sứ mạng, là lẽ sống của ḿnh.
1.4. Nói tóm lại, trí thức là những người lao động trí óc, có hiểu biết sâu rộng về một hoặc một số lĩnh vực khoa học - công nghệ, văn hóa - nghệ thuật, quản lư kinh tế - xă hội, thường xuyên vận dụng những hiểu biết đó để phát hiện và giải quyết những vấn đề lư luận và thực tiễn nảy sinh trong lĩnh vực hoạt động của ḿnh v́ lợi ích chung của cộng đồng và nhu cầu nhận thức của bản thân.
Theo cách hiểu trên th́ tầng lớp trí thức là một tập hợp mở và đa dạng, không giống bất kỳ một tập hợp nào khác trong xă hội như nông dân, công nhân, thợ thủ công, quân nhân, thương nhân hay người buôn bán nhỏ. Trí thức có thể là bất kỳ ai trong các tập hợp trên, miễn là có hiểu biết sâu rộng và tham gia lao động trí óc. Tuy nhiên, bộ phận hạt nhân của tầng lớp trí thức là các nhà nghiên cứu; các giảng viên đại học; các bác sĩ, dược sĩ cao cấp; các nhà văn, nhà thơ, nhà điêu khắc, nhạc sĩ, họa sĩ, nhà báo; các nhà quản lư và công chức, viên chức trong bộ máy tham mưu cho nhà quản lư.
2. Một số đặc điểm của trí
thức
Trí thức là một tập hợp mở và đa dạng nên đặc điểm của tầng lớp này cũng rất phong phú. Tuy nhiên, giữa các nhà trí thức, nhất là bộ phận hạt nhân của tầng lớp này, cũng có những đặc điểm phẩm chất chung; phẩm chất nào cũng có mặt mạnh và mặt yếu của nó. Phải chăng có thể nói đến những đặc điểm phẩm chất sau ?
2.1. Trí thức nói chung rất ham học, ham đọc. Nhờ ham học, ham đọc mà người trí thức luôn luôn tiếp cận được cái mới, do đó tŕnh độ lư luận không ngừng được nâng cao. Tuy nhiên, sự ham học, ham đọc, ham lư luận quá mức có thể dẫn đến t́nh trạng sách vở, kinh viện, xa rời thực tiễn. Đó là nhược điểm mà người trí thức cần đề pḥng.
2.2. Trí thức là người luôn sáng tạo trong cách nghĩ, cách làm; ít khi chịu rập khuôn theo công thức sẵn có. Chính nhờ đặc điểm này mà trí thức đóng vai tṛ nhân tố quan trọng thúc đẩy khoa học - công nghệ, văn hóa - nghệ thuật, kinh tế - xă hội phát triển. Tuy nhiên, xă hội cũng dễ nh́n nhận những sáng tạo quá đà, nhất là trong phong cách sống, là lập dị.
2.3. Trí thức là người luôn có thói quen lật lại vấn đề. V́ vậy, trí thức thường hay có ư kiến phản biện. Trong xă hội cũng như trong mỗi đơn vị, những ư kiến phản biện mang tính xây dựng đều có giá trị, ít nhất cũng giúp người được phản biện cân nhắc hoặc bổ sung, hoàn thiện chủ kiến của ḿnh. Nhưng ư kiến phản biện, nhất là những ư kiến quá thẳng thắn, dễ gây phản ứng tiêu cực. V́ vậy, người phản biện cũng cần chọn cách nói, thời điểm nói thích hợp để tính thuyết phục của ư kiến ḿnh được cao hơn.
Thói quen lật lại vấn đề khiến người trí thức nhiều khi lật đi lật lại cả ư kiến của ḿnh. Tự phản biện ḿnh là một thói quen tốt, thể hiện thái độ thực sự cầu thị. Tuy nhiên, nếu trước bất cứ việc ǵ cũng cân đi nhắc lại mà không dám hành động th́ sẽ thành do dự, nhu nhược, thiếu quyết đoán.
2.4. Mặc dù hay lật lại vấn đề nhưng khi đă tin điều ǵ một cách có căn cứ th́ trí thức thường rất trung thành với niềm tin của ḿnh. Nhà thiên văn học Ba Lan Nicolas Copernik sẵn sàng đối mặt với toà án giáo hội, chứ không phản bội niềm tin của ḿnh là trái đất quay xung quanh mặt trời. Gần một trăm năm sau, lại đến lượt nhà thiên văn Italia Galileo Galilée dũng cảm bảo vệ thuyết quả đất quay trước ṭa án giáo hội, bất chấp án lưu đày và rút phép thông công. Nhưng lịch sử cũng ghi lại thảm kịch của biết bao trí thức xưa chết v́ đặt sai niềm tin, sự trung thành của ḿnh vào những bạo chúa, độc tài hay những lư tưởng bị phản bội. Người phương Đông gọi đó là thái độ ngu trung, một biểu hiện cực đoan của trung thành.
2.5. Trí thức thường có hoài băo vươn lên những đỉnh cao, những vị trí nổi bật trong xă hội. Cách chúng ta 150 năm, Nguyễn Công Trứ từng viết:
"Đă mang tiếng ở trong trời đất
Phải có danh ǵ với núi sông."
Người trí thức nói chung trọng danh hơn trọng lợi. Thậm chí không ít người trọng danh hơn cả mạng sống của ḿnh. Nhưng quá trọng danh có thể dẫn đến hiếu danh. Chuyện chạy đua bằng cấp, danh hiệu, giải thưởng v.v... mà xă hội phê phán hiện nay cũng là những biểu hiện của thói hiếu danh.
2.6. Trí thức thường khảng khái, tự trọng. Người xưa đă khái quát phẩm hạnh này thành nguyên tắc sống: "phú quư bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất" (nghĩa là: giàu sang không làm hư hỏng, nghèo khó không khiến đổi ḷng, quyền uy không khuất phục nổi). Trong lịch sử đă có biết bao tấm gương liêm khiết, chính trực, khảng khái của người trí thức. Xă hội trọng vọng trí thức không chỉ v́ trí tuệ của họ mà c̣n v́ phẩm chất cao quư này. Tuy vậy, trong cuộc sống, cũng cần phân biệt ḷng tự trọng với thói sĩ diện. Tự tô vẽ hư danh cho ḿnh, tạo cho ḿnh vỏ bọc bằng những thứ không phải của ḿnh và khư khư bảo vệ nó, đó là sĩ diện, một biểu hiện xa lạ với ḷng tự trọng .
2.7. Trí thức thường cư xử lịch thiệp. Bộc trực khi tỏ bày chính kiến về những vấn đề lớn, nhưng trong đời sống hằng ngày, người trí thức thường khiêm tốn, nhún nhường, tránh những va chạm nhỏ, tránh làm mếch ḷng người khác. Đây là một phẩm chất đáng quư trong ứng xử, nhưng nếu quá nhún nhường, quá tế nhị cũng dễ bị người xung quanh cho là không thực bụng.